Wednesday, June 23, 2021

Từ Thức gặp tiên, truyện cổ tích Việt Nam hay một hiện tượng khoa học?

 

 

Từ Thức gặp tiên, truyện cổ tích Việt Nam hay một hiện tượng khoa học?

https://www.dkn.tv/khoa-hoc-cong-nghe/tu-thuc-gap-tien-truyen-co-tich-viet-nam-hay-mot-hien-tuong-khoa-hoc.html

Nam Minh

Rất nhiều sự kiện lịch sử có thật,
theo năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử 
mà dần dần trở thành truyền thuyết, thần thoại. (Ảnh: dkn.news)

Lâu nay chúng ta vẫn cho rằng Từ Thức gặp tiên là một tác phẩm cổ tích thần kỳ, hư cấu, phản ánh khát vọng của người dân về một thế giới tươi đẹp và hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận lại những sự kiện trong lịch sử, thì có rất nhiều sự kiện có thật, theo năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử mà dần dần trở thành truyền thuyết, thần thoại.

Ở nước Việt Nam ta lưu truyền một câu chuyện rất nổi tiếng về Từ Thức gặp tiên, cốt truyện như sau:

Theo truyền thuyết, Từ Thức quê ở ở Hòa Châu (tức Thanh Hóa bây giờ) trong thời đại nhà Trần, niên hiệu Quang Thái (1388-1398) dưới triều vua Trần Thuận Tông. Ông xuất thân từ con quan nên được bổ nhiệm làm một chức quan nhỏ ở một địa hạt thuộc xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh). Ông có sở thích hay đi ngao du, xem phong cảnh đẹp và làm thơ, còn việc quan thì ông thường bỏ mặc, nên hay bị quan trên quở trách, sau đó Từ Thức xin từ quan.

Tháng 2 năm Bính Tỵ (1396), một hôm khi Từ Thức đến thăm chùa có nhìn thấy một thiếu nữ tuổi chừng mười sáu, mười bảy, nhan sắc xinh đẹp, đến xem hoa, nhỡ tay vịn gãy một cành hoa mẫu đơn, không có gì để đền, nên bị các chú tiểu nhà chùa bắt giữ lại để phạt vạ. Từ Thức trông thấy cảnh đó và với tấm lòng nhân hậu, hiệp nghĩa, ông liền cởi áo mặc ngoài, chuộc cho thiếu nữ. Mọi người đứng xem đều khen Từ Thức là người nhân đức.

Từ Thức nghe danh huyện Tống Sơn có nhiều núi đẹp, liền đem theo một tiểu đồng và một túi đàn đến dựng một gian nhà nhỏ ở chân núi để ở. Một hôm, dậy sớm, trông ra cửa Thần Phù thấy có mây ngũ sắc kết thành hình hoa sen, Từ Thức một mình chèo thuyền ra phía ấy. Ðến chân một dãy núi cao ngất, chạy sát mặt biển, ông buộc thuyền lên bờ và trèo lên một mỏm đá cao.

Từ Thức một mình chèo thuyền…
(Ảnh: Mỹ thuật – Từ Thức gặp tiên, tác giả hdh8008
– Minh họa cho bộ “Từ Thức gặp tiên” của Nhã Nam.)

Chợt trông thấy một cái hang bên sườn núi, cửa hang tròn và rộng, Từ Thức thử vào hang xem sao. Từ Thức mới đi được vài bước thì cửa hang bỗng đóng ập lại. Hang tối mịt mùng, không còn biết đường lối nào. Từ Thức phải lần theo khe nước mà đi. Ði một lúc lâu, thấy có ánh sáng, ông lần ra khỏi hang và đi đến một chân núi khác. Thấy núi cao vòi vọi, sườn núi dốc ngược, Từ Thức cố bám vào hốc đá trèo lên.

Lên cao, ông thấy có đường rộng, rồi lên đến đỉnh núi thì trời quang đãng, ánh sáng rực rỡ, xa xa có lâu đài cung điện nhấp nhô bên những lùm cây xanh. Từ Thức đi theo đường lớn đến một lâu đài. Có hai thiếu nữ đi từ lâu đài ra, nói với Từ Thức rằng: «Phu nhân sai chúng tôi ra mời người vào chơi».

Từ Thức đi theo hai người con gái, thấy lầu son gác tía, tường gấm, bậc đá xanh, trước kia ông chỉ thấy đề cập đến trong sách, bây giờ mới thật mắt trông thấy. Trên mấy cửa đi qua, chàng thấy có chữ đề: «Ðiện Quỳnh Hư», «Gác Giao Quang», ông theo hai thiếu nữ lên gác, thấy một vị phu nhân mặc áo lụa trắng ngồi trên sập thất bảo, trước sập có kê đôi kỷ gỗ đàn hương.

Người đó cho biết đây là hang thứ sáu trong ba mươi sáu động núi Phi Lai, xưng là Ngụy phu nhân, địa tiên núi Nam Nhạc. Phu nhân bảo thị nữ gọi một tiểu thư ra. Vừa trông thấy, Từ Thức nhận ngay ra người con gái đánh gãy cành hoa mẫu đơn trong chùa ngày nọ.

Người con gái đó có tên là Giáng Hương, mang ơn của Từ Thức nên đem lòng cảm kích. Ngay đêm hôm ấy, phu nhân sai mở tiệc hoa, cho hai người làm lễ thành hôn.

Từ Thức – Giáng Hương làm lễ thành hôn
(Ảnh: Mỹ thuật – Từ Thức gặp tiên, tác giả hdh8008
– Minh họa cho bộ “Từ Thức gặp tiên” của Nhã Nam.)

Từ Thức ở được chừng một năm, có ý nhớ nhà, nói với Giáng Hương rằng: «Tôi đi xa nhà đã lâu, lắm lúc nhớ quê cũ, muốn về thăm một chút». Giáng Hương khuyên rằng: «Thiếp không phải vì tình lưu luyến hẹp hòi mà ngăn trở ý định của chàng, chỉ vì ở trần gian tháng ngày ngắn ngủi, sợ chàng có về đến nhà, cũng không thấy còn như trước nữa».

Sau đó vị phu nhân mới sai người lấy một cỗ xe để tiễn đưa. Giáng Hương viết một phong thư dán kín đưa cho chồng, dặn đến nhà hãy mở ra xem.

Từ Thức từ biệt Giáng Hương và Phu nhân, rồi lên xe, chỉ chớp mắt đã về đến làng cũ. Phong cảnh khác hẳn xưa, chỉ còn hai bên khe núi là vẫn nguyên như trước. Chàng đem họ tên mình hỏi thăm các cụ già trong làng thì có một cụ trả lời: «Hồi nhỏ, tôi cũng có nghe nói hình như cụ tổ bốn đời nhà tôi họ tên cũng như thế, nhưng lạc vào hang núi cách đây đã ngót hai trăm năm rồi».

Từ Thức buồn rầu, muốn lại ngồi lên xe tiên để đi, thì xe đã hóa thành chim loan bay đi mất rồi. Mở bức thư của Giáng Hương ra xem, chỉ thấy có dòng chữ: «Ở nơi tiên cảnh, cùng nhau kết bạn, nay duyên xưa đã hết, không còn mong hội ngộ».

Về sau, người ta thấy Từ Thức đội cái nón nhỏ vào núi Hoàng Sơn (thuộc huyện Nông Cống, Thanh Hóa) không thấy trở về nữa.

Từ Thức gặp tiên, truyện cổ tích hay một hiện tượng khoa học?

Lâu nay chúng ta vẫn cho rằng Từ Thức gặp tiên là một tác phẩm cổ tích thần kỳ, hư cấu, phản ánh khát vọng của nhân dân ta về một thế giới tươi đẹp và hạnh phúc.

Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ của nhận thức con người, chúng ta có cơ hội được nhìn nhận lại những sự kiện trong lịch sử và nhận thấy rất nhiều sự kiện có thật, theo năm tháng dài đằng đẵng của lịch sử mà dần dần trở thành truyền thuyết, thần thoại.

Xem xét truyện Từ Thức gặp tiên, ta thấy có yếu tố kỳ ảo góp phần khiến câu chuyện bị cho là hư cấu đó là việc Từ Thức đến thế giới của địa tiên núi Nam Nhạc một năm, nhưng trở về nhân gian thì đã hai trăm năm trôi qua. Tuy nhiên, đây là hiện tượng có thực và xảy ra rất nhiều trên thế giới, xin đơn cử một vài ví dụ điển hình.

Rudolph Fentz – Quảng trường Thời đại ở New York

Rudolph Fentz là một trong những trường hợp «du hành vượt thời gian» nổi tiếng lịch sử.

Rudolph Fentz và Quảng trường Thời đại ở New York.

Rudolph Fentz là một trong những trường hợp «du hành vượt thời gian» nổi tiếng lịch sử. Vào năm 1950, một người đàn ông khoảng 30 tuổi, ăn mặc theo phong cách từ cuối thế kỉ 19 lang thang giữa đường được người dân đặc biệt chú ý khi xuất hiện tại Quảng trường Thời đại ở New York. Các nhân chứng cho hay, người đàn ông đó giật mình và một vài phút sau đó gặp tai nạn ô tô dẫn đến tử vong.

Khi khám nghiệm tử thi, người ta phát hiện: tấm thẻ đồng mang tên quán rượu lạ, 70 USD tiền cũ, tấm danh thiếp mang tên Rudolph Fentz có địa chỉ tại đại lộ số 6 (Fifth Avenue); một lá thư được viết từ tháng 6/1876.

Căn cứ vào đó, cảnh sát tìm ra con dâu của Rudolph Fentz hiện sống tại Florida, Mỹ. Bà từng nghe chồng mình kể rằng, cha chồng đã mất tích một cách bí ẩn vào năm 1876, khi đó mới 29 tuổi.

Sain Juan, Puerto Rico

Năm 1954, trong một cuộc thi biểu diễn khinh khí cầu tại Sain Juan,Puerto Rico, chiếc khí cầu của Harry Rogan và Derek Norton bỗng dưng biến mất không dấu vết.

Chiếc khí cầu của Harry Rogan và Derek Norton
bỗng dưng biến mất không dấu vết…
(Ảnh qua: tinhhoa.net)

Đến năm 1990, tại vùng biển Cu Ba xuất hiện một khinh khí cầu không biết từ đâu tới, người chứng kiến cho biết: «Một phút đồng hồ trước tôi không thấy có gì ở chỗ đó nhưng một phút sau khinh khí cầu liền xuất hiện», cảnh này rất kỳ lạ. Lúc ấy, chính phủ Cu Ba còn khăng khăng cho rằng đó là “Vũ khí bí mật” do Mỹ phái tới, thiếu chút nữa ra lệnh cho máy bay bắn rơi. Nhưng cuối cùng rất may mắn, họ đã không làm như vậy.

Rogan và Derek sau đó kể lại rằng, lúc đang bay, họ bỗng bị kích thích vào vùng não, cảm giác đau đớn có luồng điện chạy qua người, chỉ trong chớp mắt bầu trời và biển cả đột nhiên biến thành một mảng màu xám trắng. Sau đó đến Cu Ba, máy bay đã hiện ra trước mắt họ.

Chuyến bay thương mại Santiago

Chuyến bay thương mại Santiago 513 khởi hành từ Đức vào ngày 4/9/1954 và biến mất ở một nơi nào đó trên Đại Tây Dương, điều kỳ lạ là qua thời gian, nhiều chuyến bay khác cũng đã biến mất hoặc «dịch chuyển tức thời» xung quanh khu vực này.

Lúc đó, người ta giả thuyết rằng máy bay bị rơi và tất cả mọi người trên đó đã mất mạng. Tuy nhiên, chiếc máy bay trên được cho là đã tái xuất hiện sau 35 năm, lượn quanh sân bay và hạ cánh tại Porto Alegre, Brazil. Hôm đó là ngày 12/10/1989.

Tam giác quỷ Bermuda

(Hình minh họa qua: tinhhoa.net)

Tháng 8/1981, một chiếc du thuyền của Anh mang tên «Sea Breeze» cùng 6 người trên boong đột nhiên biến mất tại vùng tam giác quỷ Bermuda.

8 năm sau, chiếc du thuyền xuất hiện trở lại một cách kỳ lạ tại đúng vị trí mất tích, 6 người trên thuyền vẫn bình an vô sự. Một điều đặc biệt mà cả 6 người trên du thuyền đều nhận thức được là, dường như bản thân mất đi cảm giác và họ hoàn toàn không biết được rằng ở ngoài kia 8 năm đã trôi qua. Ấy vậy mà họ chỉ cảm giác như một vài giây đã trôi qua mà hầu như chưa làm được một việc gì.

Vì thế câu chuyện Từ Thức gặp tiên rất có thể không phải là truyện cổ tích như ta vẫn thường nghĩ mà nó hé mở bí mật về Thời – Không.

Theo các nhà khoa học dự đoán, ngoài thời – không hiện tại của chúng ta, còn tồn tại cùng lúc nhiều thế giới song song khác nhau. Tại các thế giới này, không gian, thời gian trôi nhanh hơn hoặc chậm hơn so với không gian hiện tại. Sự việc của Từ Thức gặp tiên, chính là tiến nhập vào một thời – không khác trôi nhanh hơn thời – không hiện tại của chúng ta, vì thế, ông ở lại đó 1 năm trở về thì đã 200 năm trôi qua.

Lý thuyết mới về đa thế giới

Lý thuyết mới về đa thế giới 
có thể giải thích rất nhiều phát hiện kỳ lạ trong cơ học lượng tử. 
Trong đó có thể giải thích sự hiện diện của Thiên Đường. 
(Ảnh: trithucvn.net)

Tại sao người thường trong điều kiện thông thường không thể tiếp xúc được thế giới này?

Điều này được lý giải trong lý thuyết về «Đa thế giới tương tác». Tháng 3/2014, các nhà khoa học đến từ Trung tâm nghiên cứu cơ học lượng tử, Đại học Griffith, Brisbane, Australia và Khoa toán học, Đại học Davis, California, Hoa kỳ đã công bố báo cáo khoa học được bình duyệt có tên «Hiện tượng lượng tử qua sự tương tác giữa các thế giới» trên tạp chí Ứng dụng vật lý (Aps physic).

Các thế giới song song được cấu hành 
từ những vật chất khác nhau và có mức độ vi tế khác nhau
(ảnh minh họa: zidbits)

Theo đó các thế giới song song được cấu hành từ những vật chất khác nhau và có mức độ vi tế khác nhau, ví dụ Trái Đất của chúng ta được hình thành từ những hạt lượng tử cấp độ nguyên tử nhưng cũng có những Trái Đất khác được cấu tạo từ những hạt vi tế hơn như: electron, Neutrino, quark,… những hạt vi tế này có thể xuyên việt qua cấu trúc của những hạt cấp độ lớn hơn nó, nên không xảy ra va chạm giữa các thế giới và con người trong hoàn cảnh thông thường không thể tiếp xúc đến được.

Chỉ có một số trường hợp đặc thù như người tu luyện đã cải biến hoàn toàn thân thể thành vật chất không gian khác, hoặc một người có cơ duyên đặc biệt mới có thể tiến nhập vào không gian khác, mà chuyện Từ Thức gặp tiên trên là một ví dụ.

Nam Minh

«Một ngày trên trời bằng ngàn năm mặt đất» không phải là thần thoại

 

 

«Một ngày trên trời bằng ngàn năm mặt đất»
không phải là thần thoại

https://bianvn.com/tam-linh/-mot-ngay-tren-troi-bang-ngan-nam-mat-dat-khong-phai-la-than-thoai-34

Nguồn: TH - Kan NewYork

Nhiều người phương Đông đều biết câu: «Trên trời một ngày, dưới đất đã ngàn năm». Trong Kinh Thánh cũng nói: «Chúa xem một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày». Mọi người vẫn cho rằng đây chẳng qua là chuyện thần thoại do con người tưởng tượng ra, nhưng khoa học lại chứng minh những lời này là chân thực.

Một ngày trên trời, ngàn năm mặt đất không phải là chuyện thần thoại. Thời gian ở mỗi không gian đều khác nhau. (Ảnh qua floaredetei.ro)

Trái Đất xoay quanh trục của mình một vòng tương đương một ngày, xoay quanh Mặt Trời một vòng tương đương một năm. Còn Mặt Trời mất khoảng hơn 2 trăm triệu năm để xoay quanh trung tâm của Ngân hà, vậy hệ Ngân hà xoay một vòng cần thời gian bao lâu?

Nghiên cứu được đăng trong tạp chí của Hội Thiên văn Hoàng gia Anh cho biết, mất 1 tỷ năm để hệ Ngân hà xoay hết 1 vòng, và tất cả những hằng tinh tạo thành tinh hệ đều cần thời gian ước tính 1 tỷ năm mới tự xoay hết một vòng.

Giáo sư Gerhart Hauptmann của Trung tâm Nghiên cứu Thiên văn học Sóng vô tuyến Quốc tế nói: «Dù là một tinh hệ lớn hay nhỏ, nếu như bạn ngồi ở rìa ngoài cùng của tinh hệ mà xoay, như vậy cần ước chừng khoảng 1 tỷ năm mới xoay hết một vòng».

Hơn nữa, chu kỳ xoay tròn của các tinh hệ khác nhau lại đều như nhau. Nói đơn giản, nếu như coi hệ Ngân hà như một quả địa cầu, vậy khi bạn ở trên quả địa cầu của hệ Ngân hà được một năm, thì tương đương với 1 tỷ năm đối với người trên Trái Đất.

Hệ Ngân hà chẳng qua chỉ là một điểm nhỏ trong vũ trụ, vũ trụ do vô số tinh hệ tạo thành. Nếu như đến biên giới của toàn bộ vũ trụ và sống một năm, vậy là tương đương bao nhiêu tỷ năm trên Trái Đất?

Trong Kinh Phật giảng vũ trụ có 33 tầng trời, nếu như tầng khí quyển của Trái Đất là tầng trời thứ nhất, cao hơn nữa là hệ Mặt trời, hệ Ngân hà, vũ trụ, vũ trụ của vũ trụ v.v… càng lên cao, thời gian càng chậm, gấp vô số trăm triệu lần Trái Đất. Cho nên trong Kinh Phật thường dùng vạn lần, con số lớn đến không thể tưởng tượng, con người cơ bản không thể nào lý giải, cũng không thể nào tưởng tượng được.

Trong thuyết tương đối, thời gian và không gian cùng hình thành nên thời không bốn chiều, tạo thành kết cấu cơ bản của vũ trụ. Thời gian và không gian không phải là tuyệt đối, người quan sát tại điểm đo đạc có tốc độ hoặc kết cấu thời không khác nhau, vị trí đo đạc cho đến thời gian trôi qua cũng sẽ khác nhau.

Một ngày của chúng ta không chỉ khác với một ngày của hệ Mặt trời, một ngày của hệ Ngân hà, mà cả khoảng cách, tốc độ cũng đều bất đồng, chênh lệch lớn đến không tưởng tượng nổi. Trong phạm vi hệ Ngân hà của chúng ta, tất cả hành tinh cũng có đặc thù riêng của chính nó, sự khác biệt cũng rất lớn.

Thời gian trên mỗi tinh cầu, mỗi hệ Mặt trời, hệ Ngân hà đều khác nhau. (Ảnh qua La Magie est en Vous)

Đối với những hành tinh có thời không khác biệt, áp dụng khái niệm tính toán thời gian của Trái Đất dường như không hợp lý. Dùng nhận thức về khái niệm thời gian trên Trái Đất, tính toán và quan sát được sao Mộc quay quanh Mặt Trời theo chu kì 11,86 năm, nếu như tàu vũ trụ ở trên sao Mộc một năm, trên Trái Đất đã được 11,86 năm. Ở trên Hải Vương Tinh một năm, trên Trái Đất đã được 164,8 năm.

Sao Thủy xoay quanh Mặt Trời mất 88 ngày, tự quay thì mất 58 ngày 15 tiếng. Nếu tàu vũ trụ ở sao Thủy được một năm, thì Trái Đất mới chưa được nửa năm. Nếu như theo tính toán, sống ở sao Thủy một ngày thì Trái Đất đã qua 58 ngày 15 tiếng.

Có câu thành ngữ nói: «Sống một ngày bằng một năm», điều này đúng đối với sao Kim. Sao Kim quay quanh Mặt Trời mất 224,7 ngày, còn tự quay mất 243 ngày. Ở trên đó sống một ngày bằng với 243 ngày trên Trái Đất.

Nếu như dựa theo tính toán của Trái Đất, khái niệm một năm và một ngày trên sao Kim không có khác biệt quá lớn, như vậy trong vũ trụ rộng lớn ngoài hệ Ngân hà, phải chăng có tồn tại một tinh cầu «một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày». Thời gian chỉ là một khái niệm tương đối, là quy tắc do chính con người tự đặt ra. Khi rời khỏi không gian này, «thời gian» của Trái Đất cũng không còn tồn tại.

Mong ước trường sinh bất lão, vĩnh sinh bất tử trong văn hóa tu luyện của Phật giáo và Đạo giáo Trung Quốc cổ đại, chính là chỉ con người thông qua một phương pháp tu luyện đặc thù, tăng cấp độ của chính mình, thoát khỏi không gian của chúng ta, không bị thời gian của không gian này chế ước.

Mà thời gian ở ngoài không gian của Trái Đất đều là dùng hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu năm để tính toán, chứ không phải là vài chục năm của con người Trái Đất, đó không phải là trường sinh bất lão sao?

Thuyết tương đối của Einstein nói rằng, thời gian khi đồng hồ đang chạy, có thể chậm hơn lúc bất động, tốc độ càng nhanh, thời gian trôi qua càng chậm. Nếu như di chuyển bằng tốc độ ánh sáng thậm chí là siêu tốc độ ánh sáng, thời gian có thể hoàn toàn dừng lại.

Nói cách khác, nếu như phi thuyền dùng tốc độ ánh sáng bay trong khoảng thời gian 1000 năm ánh sáng, đối với người trong phi thuyền mà nói có thể chỉ là trong nháy mắt, nhưng đối với người trên Trái Đất thì đã qua mười thế kỷ. «Trên trời vừa mới một ngày, dưới đất đã ngàn năm», dùng khoa học hiện tại để giải thích, đã không còn lại truyền thuyết thần thoại nữa.

Nguồn: TH - Kan NewYork

Monday, June 8, 2020

Satan Giáo là gì? Làm thế nào để trở thành một tín đồ Satan?

 Satan Giáo là gì?
Làm thế nào để trở thành một tín đồ Satan?

Trước khi bạn muốn trở thành một tín đồ Satan, thì bạn buộc phải hiểu được Satan giáo là gì và như thế nào đã. Đây là thông tin về Satan giáo đã được giản lược đi, đủ để bạn có thể nắm bắt được trọng tâm chính. Hãy cố gắng đọc, và đừng bỏ sót, vì nếu như bạn bỏ sót một chi tiết nhỏ, nó sẽ dẫn đến một niềm tin và quan niệm sai lệch về đạo giáo Satan. Cho nên hãy cố gắng ĐỌC.

Hail Satan!

Còn đây là group của page Satanism Việt Nam, dùng để giao lưu, trao đổi và luận bàn về những vấn đề xoay quanh Satan Giáo và việc hành pháp Satan.
Satan Giáo Là Gì?
Satan Giáo, còn được biết đến với cái tên là LaVeyan Satanism, là một tôn giáo được sáng lập vào năm 1966 tại Califonia, Hoa Kỳ bởi nhà huyền học người Mỹ tên là Anton Szandor LaVey. Các nhà học giả đã phân loại Satan giáo vào dạng Tân giáo bí truyền. Năm 1966 được coi là năm thứ nhất của kỷ nguyên Satan khi ông thành lập Giáo Hội Satan.
Các học thuyết được trình bày trong cuốn Kinh Satan của LaVey viết có trọng tâm về một tôn giáo tôn thờ vật chất, chối bỏ sự tồn tại của tâm linh siêu nhiên, linh hồn và cuộc sống sau khi chết. Tín đồ Satan không tin vào quỷ Satan cũng như không thờ phượng quỷ thần. Satan ở đây là xem là một hình mẫu của sự tự tôn vinh. Satan giáo cũng được xem như là một giáo phái bài xích những tôn giáo Abrahamic và những đạo giáo khác chỉ trích và đàn áp bản năng tự nhiên của con người và khuyến khích đi theo chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa vị kỷ.
Satan Giáo cũng có những pháp môn riêng, được phân loại làm 2 dạng thức “tiểu” pháp và “đại” pháp. Đại pháp chính là những nghi lễ được thực hiện có tác dụng để khuấy động năng lượng cảm xúc của một người để hướng đến một mục đích cụ thể. Những nghi lễ này gồm 3 loại chính bao gồm lễ tình dục, lễ từ bi và lễ hủy diệt (love - hate - lust). Tiểu pháp là những thủ thuật sử dụng những phương pháp về tâm lý học và sự quyến rũ để thay đổi một cá nhân hoặc một tình huống của một người.
Giáo Hội Satan bác bỏ quan điểm đánh giá từ những nhóm đạo khác về họ như là một đạo giáo tôn thờ ma quỷ. Satan giáo chính là «một lối sống». LaVey và Giáo hội Satan có đồng quan điểm cho rằng «Tín đồ Satan luôn được sinh ra, chứ không phải là được tạo ra». Có những người sống theo ý thích của mình và bị thu hút bởi Satan giáo bởi vì nó dẫn dắt họ nhận ra mình chính là tín đồ Satan bởi vì hệ thống niềm tin của Satan giáo phù hợp với quan điểm và lối sống của chính họ, mà họ đã sống như vậy từ trước đó lâu rồi.

Kinh Satan Là Gì?
Kinh Satan đã được xuất bản trong năm 1969 và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau (trong đó có Việt Nam). Satan Giáo không đối xử với kinh Satan giống như cái cách mà các tôn giáo khác đối xử với «thánh thi”» của họ, tuy nhiên họ vẫn coi đây là một tài liệu có thẩm quyền và có hiệu lực như «sách thánh» trong giới Satan. Vì có nhiều những hội nhóm Satan và những tín đồ Satan trong các giáo phái khác không thuộc LaVeyan đều công nhận rằng tác phẩm kinh Satan của LaVey có sức ảnh hưởng tới họ.
Trong một cuộc thăm dò lớn nhất, rất nhiều người đã nói rằng họ đã được chuyển mình sau khi tiếp cận với ấn phẩm kinh Satan, và 20% trong số đó thực sự đã cải đạo. Còn đối với các thành viên trong Hội, cuốn sách này không chỉ là một bản thảo tóm lược những ý tưởng mà còn để đánh giá và thẩm định lời tuyên bố là một tín đồ Satan của bất kỳ ai. Kinh Satan chính là nền tảng của Giáo hội Satan bởi giáo lý của nó. Cuốn sách này chứa đựng các nguyên tắc cốt lõi của Satan giáo, cho nên họ thường khuyến khích những ai muốn trở thành một tín đồ Satan thì nên đọc kinh Satan để «hiểu và nắm bắt được những điều cơ bản về Satan». 

Định Nghĩa và Khái Niệm về «Satan»
LaVey là một người vô thần, và ông bác bỏ sự tồn tại của thần linh. LaVey và Giáo Hội của ông không đồng tình với quan điểm về việc tin rằng Satan như một thực thể tồn tại theo nghĩa đen, và ông cũng không khuyến khích việc thờ cúng Satan như một vị thần. Thay vào đó, Satan được sử dụng như một nhân vật mang tính biểu tượng và phê phán. LaVey đã củng cố hệ thống niềm tin của mình trong các quan điểm thế tục phi tôn giáo có nguồn gốc từ khoa học tự nhiên, vì thế ông đã có được một nền tảng vô thần để phê bình Kitô giáo và các niềm tin siêu nhiên khác. Ông đã hợp pháp hóa tôn giáo của mình bằng cách làm nổi bật những gì mà ông tuyên bố là bản chất và sự hợp lý của chính nó, trái ngược với những đạo giáo khác coi là không tự nhiên và phù hợp.
Satan được chấp nhận bởi vì nó gắn liền với sự không phù hợp và bài xích các hệ thống mang tính thống trị. LaVey chấp nhận hình ảnh Satan như một nhãn hiệu của tín đồ Satan, bởi vì nó gây sốc cho mọi người khi nghĩ về nó. Khi được hỏi về ý nghĩa của cái tên «Satan» giáo, ông đã trả lời rằng «lý do nó được gọi là Satan giáo là bởi vì nó rất vui, nó cũng chính xác và hiệu quả nữa».
LaVey cũng đã khái niệm hóa Satan trở thành một biểu tượng cho sự sống của mỗi cá nhân, vì nó đại diện cho quyền lực tự trị bên trong, và là một biểu tượng cho sự tự do cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Xuyên suốt cuốn kinh Satan, quan điểm về thần linh của những tín đồ Satan chính là «hình ảnh phản chiếu của cái tôi được thể hiện ra bên ngoài dưới dạng một vị thần». LaVey thường sử dụng thuật ngữ «god» và «Satan» thay thế cho nhau, vì ông xem cả hai đều là những cách thể hiện bản chất của một con người.
LaVey sử dụng Kitô Giáo như một tấm gương tiêu cực phản chiếu đức tin của mình. Satan Giáo bác bỏ các nguyên tắc cơ bản và thần học trong Kitô Giáo, bởi vì nó giống như một lời nói dối giống như chủ nghĩa duy tâm, tự lừa mình, có hành vi đàn áp và phi lý. LaVey xem tôn giáo của ông có tác dụng nhằm cân bằng mọi thứ bằng cách khuyến khích chủ nghĩa duy vật, cái tôi, chủ nghĩa vô thần. Satan của LaVey còn đại diện cho một điều quan trọng nữa là bài xích sự bác bỏ về bản năng gốc của loài người, thay vào đó Satan Giáo khuyến khích việc vui hưởng và sử dụng những bản năng này. Và như vậy, ta sẽ đặt trọng tâm vào tâm hồn của mình chứ không phải là linh hồn.
Bản Chất Của Loài Người Theo Satan Giáo
LaVey nhìn nhận con người, khi đã chấp nhận rằng mình là một thể vượt trội hơn trên tất cả giống loài thì tất thảy đều trở thành «một con vật xấu xa nhất trong tất cả». Đối với LaVey thì trẻ em và động vật không phải là con người đại diện cho lý tưởng này, bởi vì «đó là những tâm hồn thanh sạch nhất còn tồn tại» vì tất thảy những tâm hồn đó đều không bị vướng mắc và biết đến những khái niệm tội lỗi và xấu hổ, cũng như biết về các tôn giáo. Quan điểm của riêng ông chính là đặt mình và gia đình mình lên trên hết, sau đó là đến việc làm ăn kinh doanh, và cuối cùng thì đối với nam giới thì hãy đối xử như một quý ông. Để đối phó với những nguy hiểm và mối đe dọa, ông đã đảo ngược giáo lý của đạo Cơ đốc, đó chính là «nếu một người cho ngươi ăn một bạt tai vào một bên mặt, thì hãy nghiền nát mặt bên kia của hắn». LaVey không tin vào kiếp sau.
Tương tự như vậy, LaVey đã lên tiếng chỉ trích thái độ tiêu cực và sự hạn chế về tình dục của những đạo giáo khác, thay vào đó là khuyến khích và hỗ trợ bất cứ hoạt động tình dục nào nếu như cả 2 bên đầu đồng thuận. Giáo hội của ông cũng chào đón những người đồng tính từ rất lâu. Ông tin rằng việc tiết chế ham muốn tình dục mà không được dùng các biện pháp giải tỏa chúng sẽ gây ra những tội ác ngoài đời thực, và nên thỏa mãn những ức chế tình dục bằng cách thủ dâm hoặc quan hệ theo bất cứ cách nào nếu cả 2 bên liên đới đều thoải mái và đồng tình, từ đó sẽ phát triển một xã hội hạnh phúc và lành mạnh hơn. Còn đối với phụ nữ, LaVey khuyến khích họ sử dụng tình dục như một công cụ để thao túng người khác, nằm nâng cao khả năng cá nhân của họ. Và ngược lại, việc quan hệ tình dục mà không nhận được sự đồng thuận ví dụ như hãm hiếp và ấu dâm đều đã bị LaVey và Giáo Hội của ông tố cáo.

Định Nghĩa Về Pháp Thuật (Magic)

Mặc dù lý tưởng của LaVey được định hình bởi một thế giới quan trần tục và khoa học, tuy nhiên ông thấy rằng niềm tin sẽ sản sinh ra nhiều dạng lực huyền diệu khác trong đời thực: thay vì mô tả chúng là siêu nhiên, quan điểm của LaVey pháp thuật chính là một phần của tự nhiên mà hiện chưa được khoa học khám phá thành công. Ông tin rằng niềm tin của những pháp thuật gia sẽ có thể tác động được đến thế giới bằng sức mạnh ý chí của riêng họ. Trong kinh Satan, ông đã định nghĩa pháp thuật là «sự thay đổi một tình huống hoặc một sự kiện thuận theo ý muốn của một người, mà không cách thức bình thường nào thay đổi được». Quan điểm của ông về khoa học và pháp thuật bị ảnh hưởng bởi Crowley, nhưng ông không tin vào sự phân chia giữa pháp thuật trắng và ma thuật đen. Vì sự phân biệt này là điều hoàn toàn giả dối đến từ những kẻ tự nhận mình là «pháp sư chân thiện». 
Hệ thống pháp thuật của Satan Giáo được chia ra làm 2 loại «tiểu» và «đại». Đại pháp thuật có nghĩa là những pháp thuật được thi triển dưới dạng một nghi thức, có ý nghĩa là sự kích động tâm trí để dồn năng lượng sản sinh ra và hướng về một mục đích cụ thể. Những nghi thức này có 3 dạng chính bao gồm từ bi (love), tình dục (lust) và hủy diệt (hate). Phòng hành lễ Satan được gọi là «phòng thư giãn lý trí», nơi những sự hoài nghi đều bị gạt bỏ, và các pháp sư đều được tự do thỏa mãn các nhu cầu về tình cảm và tinh thần của mình theo mọi cách. Sự ham muốn chính là yếu tố quan trọng nhất của pháp thuật. Công dụng của pháp thuật là để thỏa mãn tình dục, đạt được thành tựu vật chất, sự thành công cá nhân hoặc để nguyền rủa kẻ thù. LaVey cũng nói về yếu tố CÂN BẰNG, nhằm nhấn mạnh rằng bất cứ pháp thuật nào đi nữa thì cũng phải thực tế. Những nghi lễ thường được coi là một hình thức trang trọng. LaVey cũng khuyến khích việc thực hành pháp thuật để hỗ trợ cho nhu cầu của con người. Phần lớn các nghi lễ Satan đều được thiết kế để hành pháp một mình, điều này cũng là vì sự độc lập chính là chìa khóa để thực hiện các pháp thuật.
Còn tiểu pháp thuật, hay còn gọi là pháp thuật đời thường, là về cách sử dụng và thực hiện sự thao túng bằng phương pháp tâm lý học ứng dụng. LaVey định nghĩa các yếu tố quan trọng của tiểu pháp thuật chính là tình cảm, sự gây tò mò và tình dục. Phù thủy sẽ sử dụng ngoại hình và ngôn ngữ cơ thể của mình, cùng với mùi hương, màu sắc, dáng dấp của chính mình. Pháp môn này khuyến khích phù thủy tự cải thiện bản thân mình, thay đổi một số yếu tố về ngoại hình để ta có thể dụ dỗ và mê hoặc một đối tượng vì sự ham muốn.
LaVey phát triển một cái gọi là «đồng hồ Synthesizer», cấu tạo của nó là để nhằm phân tích con người ra thành những nhóm người khác nhau dựa trên cơ thể và tính cách. Chiếc đồng hồ này sẽ hỗ trợ phù thủy trong việc xác định bản thân, sau rồi sẽ trợ giúp trong việc sử dụng tìm kiếm một đối tượng qua những mặt đối lập. Khi bạn đã tìm thấy vị trí của mình trên đồng hồ, bạn sẽ được khuyến khích để thích ứng với nó cho phù hợp, và hoàn thiện loại thuật của bạn đang sử dụng bằng cách điều hòa các yếu tố nhằm đạt được sự thành công cao hơn.
Khái Niệm Về Các Lễ Nghi
Hai khái niệm này cần phải được làm rõ, các nghi thức, nghi lễ chính là nghi lễ pháp thuật được sử dụng để phục vụ nhu cầu của bản thân, còn lễ nghi là để tổ chức và dành cho những hoạt động đặc biệt. Các nghi lễ được tổ chức bởi một cá nhân, còn lễ nghi được tổ chức bởi một hội nhóm.
Và cả hai đều không phải là những hành động thờ cúng quỷ thần.
Các lễ nghi có nghĩa chính xác là «những màn trình diễn kịch tính» với những hướng dẫn cụ thể như phục trang cần mặc, cần sử dụng âm nhạc gì và thực hiện các động tác như thế nào. Mục đích của những nghi lễ này là để nhằm tạo nên hiệu ứng sân khấu hào nhoáng và tăng cường thêm người tham gia để bổ trợ cho sức mạnh pháp thuật. LaVey quy định nam giới sẽ mặc áo chùng đen, nữ giới lớn tuổi nên mặc đồ đen tuyền, còn phụ nữ trẻ thì sẽ ăn mặc khiêu gợi để tạo nên sự hấp dẫn và kích thích tình dục một trong số những người đàn ông. Tất cả những người tham gia đều phải mang bùa hộ mạng có biểu tượng ngôi sao năm cánh ngược hoặc ấn hiệu Baphomet.
Theo hướng dẫn của LaVey, bàn thờ Satan sẽ treo một hình ảnh Baphomet. Nến được sử dụng để hành pháp là nến màu đen. Nến trắng chỉ được sử dụng trong nghi lễ hủy diệt, chỉ duy nhất một cây đặt bên phải bàn thờ. Ngoài ra pháp cụ còn gồm có một chiếc chuông, một chiếc chén đựng đồ uống gọi là «Rượu Ngọt Cuộc Đời», một thanh gươm tượng trưng cho quyền lực, một chiêng, và giấy da để viết những lời thỉnh cầu Satan và sau đó sẽ được đốt. Mặc dù được sử dụng thức uống là rượu, nhưng không được phép quá say sưa và không hút ma túy, đó là điều cấm kỵ.
Trong một số nghi thức, bàn thờ sẽ là một người nữ khỏa thân, đó là hình ảnh tượng trưng cho bàn thờ tiên khởi. Cô ta sẽ nằm trần truồng trên bàn thờ. Không có bất cứ hoạt động quan hệ tình dục hoặc hiến tế sinh mạng nào trong các nghi lễ Satan. Trẻ em bị cấm không được dự lễ này, ngoại trừ Bí Tích Rửa Tội Satan được thiết kế đặc biệt để dành cho trẻ em.

Satan Giáo có những ngày «lễ thánh» nào?
Có 3 ngày đại lễ trong Satan giáo mà tất cả mọi người cùng hân hoan, đó là ngày sinh nhật của chính mình, ngày Halloween và đêm hội phù thủy Walpurgisnacht.
Biểu tượng của Satan Giáo 
Biểu tượng của Giáo hội Satan chính là một ngôi sao năm cánh đảo ngược cùng với một con dê bên trong. Ban đầu khi Giáo hội Satan chưa được thành lập thì LaVey thường sử dụng biểu tượng thập tự ngược để chế nhạo Kito giáo. Đến sau này ông mới sử dụng một biểu tượng sao năm cánh đảo ngược, có đầu con dê bên trong và những kí tự Do thái cổ bên ngoài ghép thành chữ «Leviathan», đây được coi là một biểu tượng chính thức và độc quyền bởi giáo hội Satan. Nó được gọi là Ấn Hiệu Baphomet.

Tiếp theo, làm thế nào để THỰC SỰ trở thành một tín đồ  Satan?
Không giống như tên gọi của nó, LaVeyan Satanism có rất ít, hoặc là chẳng hề liên quan đến Satan trong kinh thánh của đạo Thiên Chúa. Trên thực tế, những tín đồ Satan còn không tin vào ma quỷ. Được sáng lập bởi Anton Szandor LaVey vào năm 1966, chủ nghĩa Satan là một tôn giáo «vô thần» có trọng tâm là niềm tự tôn, sự tự do và sức mạnh. Chủ nghĩa Satan là chủ nghĩa cá nhân và tự do trong suy nghĩ. Để trở thành một tín đồ Satan, thì ta chỉ cần sống theo một vài nguyên tắc đơn giản thì đã được coi là một Satanist (tín đồ Satan) rồi. Nhưng có một vài cách để bạn có thể CHÌNH THỨC trở thành một tín đồ Satan thực sự.

Bước 1: Tìm đọc kinh Satan
Nội dung của kinh Satan bao gồm học thuyết và thực hành theo tư tưởng của Satan giáo, được viết và sáng lập bởi Anton Szandor LaVey. Bạn nên đọc kinh Satan trước khi có ý định trở thành một tín đồ Satan, mặc dù điều này cũng không cần thiết nếu như bạn không thực sự muốn được công nhận.
* Sách được bày bán trên Amazon và Ebay, tên sách là «The Satanic Bible». Nếu không thì bạn có thể tải miễn phí trên mạng về. Còn nếu thực sự nghiêm túc và muốn đầu tư, thì qua SatanShop Vietnam để sắm một cuốn kinh Satan ấn bản Tiếng Việt 100%. Trên mạng có sẵn một vài chương đầu bằng tiếng Việt của cuốn kinh Satan nhưng không đầy đủ.

Bước 2: Học về Tam Đại Giới Luật
Tam Đại Giới Luật Satan chính là nền tảng triết lý của Satan giáo, bao gồm:
●  9 Tuyên Bố Của Satan●  11 Điều Răn Của Satan●  9 Mối Tội Đầu Của Satan

Bước 3: Bắt đầu sống như một tín đồ Satan
Hãy sống một cách độc lập. Giáo hội Satan tán thành tư duy độc lập như là một trọng tâm chính yếu của đạo. Vì trong Satan giáo, từ «Satan» đại diện cho sự lựa chọn. Bạn có quyền không đồng quan điểm với những người khác, thậm chí là với cả tín đồ Satan khác,
- Độc lập có nghĩa là độc lập trong niềm tin và cuộc sống của bạn. Satan giáo tập trung chủ yếu vào những vấn đề xoay quanh cuộc sống và xã hội.
- Hãy tự quyết, bạn không cần phải đồng tình với một người chỉ vì họ cũng là một tín đồ Satan. Bạn nên tự quyết định và duy trì ý kiến của chính mình để trở nên thực sự độc lập.

Bước 4: Hành Pháp
Nghi lễ Satan gồm có 2 loại «tiểu» và «đại» pháp thuật, có tác dụng để thực hiện hóa ước muốn của một người. Giống như việc thiền định hoặc yoga, các nghi lễ có trọng tâm là tập trung và hướng tâm trí tới một mục tiêu cụ thể hoặc cách suy nghĩ như thế nào để đạt được điều mình muốn.
- Nghi lễ không cần phải được thực hiện dưới ánh nến hay trong đêm trăng. Sự ham muốn và khả năng tập trung là tất cả những gì cần thiết rồi. Bạn có thể làm điều này theo cách tốt nhất của mình.
- Đại pháp liên quan đến bản thân bạn, để nhằm thay đổi cảm xúc và suy nghĩ của riêng bạn.
- Tiểu pháp nhằm thay đổi cảm xúc và suy nghĩ của người khác thông qua những nỗ lực của chính bạn

Bước 5: Kỉ niệm một số ngày lễ
Trong Satan giáo, ngày lễ quan trọng nhất trong năm chính là ngày sinh nhật của mỗi người. Là một tôn giáo tự tôn vinh bản thân mình nên không có ngày lễ «thánh» nào to hơn sinh nhật của bạn được. Hãy tổ chức thật hoàng tráng, long trọng và dành cho mình một ngày đại lễ.
- Tín đồ Satan cũng tôn vinh thiên nhiên. Trọng tâm là sự thay đổi theo mùa. Ví dụ như đông chí và xuân phân, họ cũng sẽ tổ chức một lễ kỉ niệm.
- Halloween cũng là một dịp tương tự. Nhiều tín đồ Satan thích ngày này bởi vì mỗi năm một lần, ai ai cũng muốn được trở thành «một cái gì đó» và thuộc về chính mình.
- Giáng sinh được coi là một lễ kỉ niệm dành cho việc vui hưởng chỉ sau lễ hội Cổ giáo. Mặc dù Giáng sinh thường sẽ là truyền thống của Kitô giáo nhưng tín đồ Satan cũng không có vấn đề gì về điều này. Họ tập trung vào việc ăn uống vui chơi và mua quà tặng cho bạn bè.

Bước 6: Hãy vui hưởng trong tầm kiểm soát.
Nếu thú vui của bạn là điều hợp pháp thì cứ việc hưởng thụ. Tuy nhiên, Giáo Hội Satan chỉ tán thành sự vui hưởng chứ không phải là nghiện ngập. Nghiện ngập là đi ngược lại với khuôn khổ của Satan giáo. Vì sự sống còn là điều luật cao nhất!


Hình ảnh Baphomet của Eliphas Levi's được LaVeyan Satanism sử dụng như là một biểu tượng của tính nhị nguyên, khả năng sinh sản và quyền lực của bóng tối. Đồng bộ với biểu tượng chính của họ, Ấn Hiệu Baphomet.

Thursday, January 25, 2018

Dan-vao-Than-Hoc-vui-nhan


DẪN VÀO
 THẦN HỌC VUI NHÀN





1. Làm việc phải có nghỉ ngơi và giải trí

Khi làm việc cho một công ty khai thác quặng sắt tại Mỹ, kỹ sư Fréderick Winslow Taylor (1856-1915) đã thí nghiệm với các công nhân của ông như sau: Khi mới tới làm việc tại công ty, ông ghi nhận các công nhân đang dùng một loại sẻng mỗi lần xúc được 38 pound quặng, và mỗi ngày xúc được 21 tấn quặng. Ông nhận thấy sẻng đó quá lớn so với sức lực của công nhân. Vì thế ông đã cho họ dùng một loại sẻng nhỏ hơn mỗi lần xúc được 21 pound. Lạ thay, số quặng xúc được mỗi ngày tăng lên thành 30 tấn. Sau ông lại cho công nhân dùng sẻng 18 pound thì năng xuất tăng lên thành 38 tấn/ngày. Ðó là hiệu suất tối đa có thể đạt được khi thay đổi loại sẻng.

Hồi đó, công nhân làm việc mỗi tuần 7 ngày, không nghỉ ngày nào, và làm mỗi ngày 10 tiếng, nên họ không có thì giờ nghỉ ngơi và giải trí. Vì thế, ông giảm số giờ và số ngày làm việc để thỏa mãn nhu cầu đó thì năng suất của công nhân tăng lên rõ rệt. Khi ông cho công nhân được nghỉ ngơi giữa giờ làm việc, thì năng suất cũng tăng lên.

Câu chuyện trên cho ta thấy không phải cứ làm việc liên tục một cách tích cực và chăm chỉ thì công việc sẽ đạt được hiệu quả tối đa. Muốn đạt được hiệu quả ấy, cần phải phối hợp một cách hợp lý giữa làm việc và nghỉ ngơi giải trí. Và cũng không phải càng cố gắng nhiều càng tốt, mà chỉ nên cố gắng vừa sức mình thì sự cố gắng đó mới lâu dài và đem lại năng suất cao nhất.

Do đó, những người phải làm việc nhiều nên lưu tâm đến chuyện nghỉ ngơi và vui chơi giải trí để có thể làm việc lâu dài và công việc có hiệu quả hơn. Ðồng thời cũng phải lượng sức mình để gắng sức vừa phải, phù hợp với khả năng tinh thần và thể chất của mình.

Những người ưu tú trong xã hội thường phải đảm trách những công việc quan trọng hoặc phải đảm trách quá nhiều công việc và lúc nào cũng phải cấp bách làm xong cho kịp thời hạn, nên cảm thấy mình không thể dành nhiều thì giờ để nghỉ ngơi hay giải trí được. Những người này thường để cho trách nhiệm và công việc lôi cuốn đến nỗi mình bị chúng làm chủ hơn là mình làm chủ chúng. Mặc dù họ rất mệt và cần nghỉ ngơi giải trí để lấy lại sức, nhưng ý thức trách nhiệm quá cao khiến họ không nỡ bỏ dở công việc đang tiến hành tốt đẹp. Và kết quả là sau một thời gian dài ráng sức nhiều quá, họ bị «surmenage» (quá mệt vì lao lực) không thể tiếp tục làm việc được nữa. Lúc đó, công việc có cần thiết hay cấp bách tới đâu cũng phải bỏ. Nếu cứ tiếp tục làm việc nữa sẽ bị kiệt sức và suy nhược cơ thể, phải mất nhiều thời gian mới có thể phục hồi lại được. Ðó là chưa nói đến những chứng bệnh nan y tất nhiên sẽ phát sinh do thường xuyên làm việc căng thẳng như các bệnh về tim mạch, dạ dầy, ruột, bệnh cao huyết áp, bệnh trĩ, tiểu đường, hoặc tai biến mạch máu não, v.v...

Làm việc đến nỗi đi đến những tình trạng bệnh hoạn như thế quả là thiếu sáng suốt, mặc dù về mặt luân lý cũng có phần nào đáng khen! Vì khi làm việc trong tình trạng mỏi mệt, chắc chắn hiệu quả không cao, thậm chí có thể vì thiếu sáng suốt mà đi đến những quyết định sai lầm tai hại. Nếu khi cảm thấy mệt mỏi, ta cứ «can đảm» hy sinh một chút thời gian để đi đến một chỗ nào đó nghỉ ngơi và vui chơi một hay hai ngày, thì chắc chắn khi trở lại với công việc, ta sẽ hăng hái, sáng suốt và làm việc hữu hiệu hơn trước rất nhiều, kết quả công việc bảo đảm sẽ tốt đẹp hơn. Thời gian để vui chơi giải trí đó sẽ đuọc bù lại xứng đáng, chứ không uổng phí vô ích. Cũng như khi F. Taylor cho công nhân nghỉ mỗi tuần một ngày, thì năng xuất hàng tuần chẳng những không giảm đi mà còn tăng lên, chưa nói tới mối lợi của công ty là chỉ phải trả có 5 hoặc 6 ngày công thay vì 7 ngày.

Nghỉ ngơi giải trí không phải chỉ là ích lợi cho công việc, mà còn là cần thiết, thậm chí tối cần thiết để có thể tiếp tục làm việc và làm việc cho có hiệu quả. Làm việc và nghỉ ngơi giải trí phải luôn luôn đi đôi với nhau và phối hợp với nhau nhịp nhàng như hai thời trong việc đóng đinh. Khi đóng đinh, có hai tác động: giáng búa xuống và nhấc búa lên. Tác động nhấc búa lên, tuy không làm cho đinh lún xuống chút nào, nhưng cũng cần thiết không kém tác động giáng xuống. Vì nếu không nhấc búa lên thì tuyệt đối ta không thể giáng búa xuống lần thứ hai để làm cho đinh tiếp tục cắm sâu vào gỗ. Làm việc và nghỉ ngơi giải trí cũng phải phối hợp với nhau chặt chẽ như thế mới hợp tự nhiên và mang lại hiệu quả tốt đẹp.

Luật tự nhiên là như thế. Thánh Kinh có nói: «Mọi việc dưới gầm trời đều có thời của nó. Có thời sinh ra thì cũng có thời chết đi. Có thời trồng thì cũng có thời phải nhổ (nhổ vật đã trồng). Có thời giết thì cũng có thời cứu sống. Có thời phá đổ thì cũng có thời xây dựng... Có thời im lặng thì cũng có thời nói ra. Có thời yêu thì cũng có thời ghét. Có thời chiến thì cũng có thời bình» (Gv 3,1-8). Theo tinh thần đó, có thời làm việc thì phải có thời nghỉ ngơi và vui chơi. Tuân theo luật tự nhiên ấy thì mọi sự đều tốt đẹp, trái với luật đó thì không tốt: «Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong».



2. Tinh Thần Vui Nhàn (vui chơi - nhàn nhã)

Lý thuyết là như thế, ai cũng biết việc nghỉ ngơi giải trí là cần thiết. Nhưng đối với ai phải đảm nhận nhiều trách nhiệm, nhiều khi không có đủ thời giờ để làm cho xong những công việc phải làm, đôi khi rất cấp bách phải hy sinh cả thời giờ nghỉ đêm để thức khuya làm việc, thì đào đâu ra thời giờ để vui chơi giải trí? Ông Trời rất công bằng, nhưng lại công bằng một cách bất công ở chỗ: người phải làm nhiều việc hay ít, và dù nhiều hay ít việc tới đâu thì ai cũng được cung cấp đúng 24 giờ một ngày, không ai được thêm hay bị bớt đi phút nào. Vì thế, có người tha hồ nghỉ ngơi vui chơi giải trí, có người phải xếp đặt khôn khéo mới có được thời giờ đó, và cũng có người tìm được thời giờ để nghỉ ngơi giải trí thì thật là khó khăn. Như đã nói ở trên, những người này cũng phải «can đảm» dứt bỏ công việc để nghỉ ngơi giải trí mỗi khi cảm thấy mệt mỏi vì quá rán sức. Nếu không «dứt» công việc thì công việc cũng sẽ «dứt» mình, nên thà rằng mình «dứt» công việc còn hơn để nó «dứt» mình.

Tuy nhiên cũng có cách để những người này có thể vui chơi giải trí mà không cần phải dành ra thời giờ rõ rệt để làm chuyện đó. Họ nên áp dụng tinh thần vui nhàn của Nguyễn Công Trứ: «Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn?» (Biết nhàn thì đã là nhàn rồi, còn cứ chờ lúc được nhàn thì biết đến bao giờ mới nhàn?) Biết nhàn ở đây nghĩa là biết cách nhàn, có tinh thần nhàn. Được như vậy thì dù có bận bịu công việc vẫn giữ được tâm hồn ung dung thư thái, chứ không bị đảo điên tất bật vì công việc. Cũng như tự do và hạnh phúc, có thứ lệ thuộc vào những điều kiện bên ngoài, có thứ tự tại, không lệ thuộc vào điều kiện nào cả. Nhiều người nói: Phải được thế này được thế kia thì tôi mới tự do, mới hạnh phúc được! Tự do mà phải tùy thuộc vào điều kiện này điều kiện kia thì đâu có phải là tự do đúng nghĩa?!

Tự do đích thực là tự do bất chấp điều kiện bên ngoài: cho dù ở tù vẫn cảm thấy tự do. Hạnh phúc cũng vậy, có nhiều người nghĩ rằng phải có tiền mới hạnh phúc được. Thứ hạnh phúc đó quả là mỏng manh và tạm bợ, vì khi nào không còn tiền thì cũng không còn hạnh phúc. Nhưng vẫn có những người luôn luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng thấy «tên mình đã được ghi trên trời» (Lc 10,20). Hạnh phúc như thế thì trong hoàn cảnh nào cũng vẫn hạnh phúc. Ðó là thứ hạnh phúc không điều kiện. Tự do và hạnh phúc không điều kiện như thế là những thái độ nội tâm, biết tự bằng lòng với chính mình, không để nội tâm của mình lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài.

Tương tự như vậy, nhàn nhã cũng có hai thứ: thứ có điều kiện và thứ không lệ thuộc điều kiện. Nhiều người chỉ cho mình là nhàn khi không phải làm việc nhiều, không phải bận tâm nhiều việc, khi có nhiều thì giờ rảnh rang. Nhưng vẫn có những người tuy bận rất nhiều việc, gánh trên vai nhiều trách nhiệm, làm việc không ngừng ngày này qua ngày khác, vẫn luôn cảm thấy tâm hồn an nhiên thư thái, thái độ lúc nào cũng ung dung tự tại, nét mặt luôn luôn vui tươi, không khác gì một người lúc nào cũng nhàn nhã. Họ không cần phải dành thì giờ để vui chơi giải trí, vì họ đã vui chơi giải trí trong chính công việc của họ. Ít khi họ cảm thấy mệt nhọc vì công việc, vì đối với họ, họ đâu có làm việc. Công việc chính là trò chơi, là trò giải trí của họ. Cần gì phải giải trí bằng cách khác. Ðối với họ, trách nhiệm cũng chỉ là trò chơi giải trí, là một thách đố gây cho họ nhiều cảm hứng thích thú. Chu toàn trách nhiệm đã lãnh nhận, hay thành công trong công việc có nghĩa là họ đã thắng trong cuộc chơi. Thất bại hay không làm tròn trách nhiệm, dù đã cố gắng tối đa, thì cũng chỉ là thua cuộc, có gì là nghiêm trọng mà phải buồn phiền hay đặt thành vấn đề? Họ thấy trên đời chẳng có gì là nghiêm trọng khiến họ phải mất bình an trong tâm hồn. Tất cả đều chỉ là trò chơi, và cả cuộc đời là một trò chơi lớn. Nếu họ có phải dồn hết năng lực vào việc gì thì không phải vì họ coi việc đó là nghiêm trọng, mà vì họ cảm thấy «trò chơi» đó đáng cho họ dồn hết năng lực để thắng cuộc.

Tất cả đều chỉ là trò chơi, đều nhắm mục đích đem lại vui thú, hạnh phúc và thoải mái cho con người. Và người đầu tiên sáng tác ra mọi thứ vui chơi ấy chính là Thiên Chúa. Vì tình thương đối với mọi tạo vật, nhất là với các thiên thần và loài người, Ngài đã mời gọi tất cả tham dự vào cuộc chơi vĩ đại ấy, để chính Ngài và tất cả mọi tạo vật đều được một phen vui chơi thỏa thích, làm cho cuộc hiện sinh của mình có ý nghĩa. Còn mục đích nào đúng đắn cho sự hiện hữu của chính Ngài và cho tất cả mọi chúng sinh cho bằng để tất cả đều được hạnh phúc, đều được vui đùa với nhau trong tình yêu thương lẫn nhau? Và cũng không có gì làm cho mọi người được vui tươi, hạnh phúc và thoải mái bằng nô giỡn với nhau!

Ðối với người coi tất cả mọi sự đều chỉ là trò chơi, thì có điều gì được coi là quan trọng ngoài tương quan thân thiện giữa những người cùng chơi với nhau, trong đó có Thiên Chúa và tất cả mọi loài chúng sinh? Thắng bại trong trò chơi cũng là chuyện khá quan trọng mà ai cũng tự nhiên lưu tâm tới, nhưng đâu quan trọng bằng cái tình thương giữa những người cùng chơi?! Luật chơi − tức những luật tự nhiên cũng như những luật thiết định mà Thiên Chúa, người sáng tác ra trò chơi, lập ra để chơi − cũng là chuyện quan trọng thứ yếu. Chính vì muốn trò chơi được đúng đắn và đem lại sự vui tươi tối đa mà mọi người cần tôn trọng luật. Ðương nhiên ai lỗi luật chơi thì cũng cần phải chịu một hình phạt nào đó xứng hợp, giống như trong mọi trò chơi do loài người lập ra.

Quan niệm rằng mọi việc trong cuộc đời, ngay cả cuộc đời, thậm chí cả những chương trình vĩ đại của Thiên Chúa đều chỉ là những trò tiêu khiển, quan niệm đó giúp ta có một thái độ bình tâm, ung dung, nhàn nhã và vui tươi trước cuộc sống. Nó cũng giúp ta có một tinh thần siêu thoát, tâm hồn không bị vướng vào những thực tại trần tục. Vì thế cuộc đời lúc nào cũng thơ thới hân hoan, không có gì đáng phải buồn phiền, luôn luôn thấy mình sướng như tiên, dù hoàn cảnh bên ngoài có khó khăn. Ðã là trò chơi ắt phải có tính thách đố, nghĩa là phải có khó khăn để vượt qua. Nếu không có khó khăn để thách đố, thì đó là thứ trò chơi «lãng nhách» nếu không muốn nói đó không còn là trò chơi nữa. Trò chơi nào cũng phải có cái khó của nó. Chính cái khó đó mới làm cho trò chơi trở nên hấp dẫn. Người ham chơi đích thật càng ngày càng muốn dấn thân vào những trò chơi khó hơn. Và niềm vui của trò chơi chính là thắng vượt được khó khăn. Khó khăn càng lớn thì người thắng cuộc càng vinh quang. Do đó, càng khó khăn thì càng nên hứng chí, lẽ nào buồn phiền chán nản?

Quan niệm mọi sự chỉ là trò chơi và thực sự sống theo quan niệm ấy, đó là một thứ linh đạo cao cấp và hết sức đúng đắn và cũng rất chí lý. Ðương nhiên không thể tránh khỏi có những người quá nghiêm trang đến độ không thể coi quan niệm này là đúng đắn được. Họ thích nghiêm trang đạo mạo và hay quan trọng hóa mọi chuyện. Vì thế, trí óc họ bị căng thẳng khiến họ dễ bực bội quạu quọ với người khác, đồng thời làm mồi cho những căn bệnh nan y có nguyên nhân tâm lý. Ðể đề phòng đồng thời chữa trị những chứng bệnh ấy, khoa tâm lý thời nay đề nghị phương thức «hài hước trị liệu» (Humour therapy). Nhưng hài hước và pha trò đối với họ quả là khó vì họ không thích và không quen làm mất đi vẻ nghiêm trang, đạo mạo, «đúng đắn» của họ. Họ có vẻ đạo đức và thánh thiện, nhưng thánh thiện cách nghiêm trang hơn là vui vẻ. Các nhà tu đức học nói về họ: «Un saint triste est un triste saint» (Thánh mà buồn là thánh đáng buồn), và «Sanctus videtur sed non est» (Có vẻ là thánh chứ chẳng phải thánh), đang khi những vị thánh thật sự thì lại «Sanctus non videtur sed est» (Không có vẻ thánh mà hóa ra là thánh).

«Linh đạo vui chơi nhàn nhã» này được các nhà «thần học vui nhàn» (thần học về nhàn nhã vui chơi) ủng hộ và đặt nền tảng cho nó.



3. Thần Học Vui Nhàn
     (Théologie des Loisirs)

Ngày nay, tuy máy móc và tiện nghi kỹ thuật đã giảm cho con người biết bao nhiêu công việc, nhưng con người chẳng nhàn hạ rãnh rỗi hơn xưa, trái lại còn bận bịu tất bật hơn rất nhiều. Vì văn minh tiến bộ, một mặt giảm bớt cho con người biết bao nhiêu việc cũ, mặt khác lại gia tăng gấp bội những công việc mới. Vì thế, trong lịch sử con người, chưa bao giờ con người lại bận bịu công việc như ngày nay. Nước nào càng văn minh, càng kỹ nghệ hóa cao, thì dân nước đó càng phải chạy đua với công việc, tất bật với công việc tới độ căng thẳng. Vì thế, con người càng ngày càng ý thức được sự cần thiết của thời giờ rảnh rỗi, của vui đùa giải trí, của thư giãn...

Trong chiều hướng tái khám phá nhu cầu và giá trị nhân bản của việc vui chơi giải trí của con người, về mặt tôn giáo, người ta cũng tái khám phá chiều kích tâm linh của vui chơi, giải trí, và sự cần thiết của nó đối với tâm linh. Từ đó, trong Giáo Hội, phát sinh ra «Thần Học về nhàn nhã vui chơi», tìm hiểu chiều kích vui chơi của con người, của Giáo Hội, của Thiên Chúa.

Một trong những thần học gia đầu tiên của thần học này là Hugo Rahner (Anh của thần học gia Karl Rahner). Ông đã tái khám phá trong linh đạo của Thánh Tôma Aquinô chiều kích căn bản của lập trường Kitô giáo về hoạt động vui chơi của con người. Theo ông, sự vui chơi chính là một nguyên lý để giải thích và chú giải mặc khải Kitô giáo. Ông đi từ Homo ludens (con người vui chơi) đến Deus ludens (Thiên Chúa cũng vui chơi) và Ecclesia ludens (Giáo Hội cũng vui chơi). Ông cho rằng việc sáng tạo cũng như cứu chuộc là một trò chơi của sự khôn ngoan Thiên Chúa.

Ông lập luận như sau: Thiên Chúa dựng nên vũ trụ cũng như cứu chuộc để làm gì? Tại sao Ngài phải làm như vậy? Chúng ta làm hết việc này đến việc kia là do chúng ta muốn thỏa mãn một nhu cầu hay một thiếu thốn nào đó. Mà đã có nhu cầu, đã thiếu thốn thì có nghĩa là bất toàn. Thiên Chúa là Ðấng hoàn toàn, Ngài không thiếu thốn gì cả. Vì thế, không thể nói Ngài sáng tạo hay cứu chuộc vì một lý do nào khác ngoài tình yêu tự do vượt khỏi mọi tất yếu. Tình yêu đó khác với tình yêu của con người. Con người yêu thương vì có nhu cầu yêu và được yêu, hay vì sự hấp dẫn lôi cuốn (nét đẹp, sự thiện hảo) của đối tượng yêu. Còn Ngài yêu thương không vì một lý do nào cả, không vì nhu cầu yêu thương hay vì vẻ hấp dẫn của đối tượng yêu, cũng không phải vì nhu cầu giải trí do trí tuệ bị mệt mỏi. Ngài yêu vì Ngài muốn yêu, Ngài hoạt động vì Ngài muốn hoạt động. Do đó, tình yêu cũng như hoạt động của Ngài mang tính cách vui chơi, hoàn toàn tự do.

Theo các sách khôn ngoan trong Kinh Thánh, theo truyền thống các giáo phụ và các nhà thần bí, việc tạo dựng vũ trụ là một trò chơi, trong đó, Ngôi Lời (Logos) dấn thân vào trong thế giới để làm cho Thiên Chúa Cha vui thú. Vì thế, cuộc sáng tạo là một vũ khúc vũ trụ (danse cosmique), và vũ trụ là một trò chơi đang tiếp diễn của Ngài, một trò chơi vĩ đại, trong đó Thiên Chúa đang vui đùa.

Thánh Kinh không ngần ngại dùng từ «vui đùa», «vui chơi» để mô tả hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa. Sách Châm Ngôn mô tả: Sự Khôn Ngoan vốn ở luôn bên cạnh Ðấng Sáng Tạo «hằng ngày làm cho Ngài được vui thú và luôn luôn vui đùa trước nhan Ngài, và nơi trần gian cũng vui chơi và thích thú giữa con cái loài người» (Cn 8,30-31). Trong tinh thần đó, sự cứu chuộc, là cuộc sáng tạo mới, nói theo thuật ngữ của Thánh Kinh, cũng là một trò chơi của sự Khôn Ngoan Thiên Chúa. Trong đó Ðức Kitô, «bài thơ» của Chúa Cha, chính là sự vui chơi tuyệt hảo của Ngài.

Thế giới của chúng ta cũng là một hý trường, trong đó Thiên Chúa đang nô đùa với chúng ta, chúng ta cũng đang nô đùa với Ngài. Hình ảnh một người cha nô đùa với con cái, cảm thấy thích thú khi làm cho chúng cười, là hình ảnh rất đẹp để diễn tả tình yêu vui nhộn giữa Thiên Chúa và con người. Và chỉ trong trò chơi vui nhộn ấy giữa cha con, sự thân tình mới được bộc lộ cao điểm. Thật vậy, người ta dễ gần gũi với nhau nhất khi vui chơi nô đùa với nhau. Khi cùng làm việc, người ta phải tôn trọng tôn ti trật tự trên dưới, nên có sự xa cách nhau do địa vị chức tước quyền hành. Nhưng khi vui đùa với nhau, tất cả mọi khoảng cách đều ngắn lại, sự thân thiện phát sinh khiến mọi người cảm thấy gần gũi nhau. Vì thế, nhìn Thiên Chúa như một người Cha đang nô đùa với chúng ta, ta sẽ cảm thấy Ngài gần gũi thân mật với chúng ta hơn bao giờ hết. Nếu Ngài đang nô đùa với chúng ta thì thái độ thích hợp nhất của chúng ta là cùng nô đùa với Ngài, làm cho Ngài thích thú. Thái độ nghiêm trang quá đáng đối với Thiên Chúa cũng như đối với mọi người không phải là thái độ thích hợp. Ðức Kitô đã không có thái độ như thế.

Thần học gia Harvey Cox, trong một tiểu luận thần học (La fête des fous, Paris 1971, p.173), đã mô tả Ðức Giêsu như một người hài hước vui tính, một Ðức Giêsu vui tươi, linh động, hấp dẫn, để đến gần. Ông viết: «Như một người trào phúng, Ðức Kitô coi thường hủ tục, lề thói cũ, coi thường những người vẫn được người đời ca tụng nể vì. Như một thi sĩ lang thang, Ngài không có nơi gối đầu. Như một tay châm biếm chọc cười, Ngài chế giễu những quyền bính được người đời lập ra, bọn này lúc nào cũng sống xa hoa lộng lẫy bên cạnh đám dân nghèo thiếu thốn cùng khổ. Như một nhà thơ hát rong, Ngài tham dự các lễ hội và các buổi tiệc. Cuối cùng, những kẻ thù của Ngài đã dùng chính danh hiệu Vua, tạo thành một bức hoạt kê châm biếm chua chát (để trả thù những châm biếm của Ngài) và đóng đinh Ngài giữa những tiếng cười nhạo báng với bảng hiệu trên đầu Ngài (để trả thù những chế diễu của Ngài)...» Khi gán cho Ðức Kitô những nét đặc trưng của một người vui nhộn trào phúng, Harvey Cox muốn diễn tả một cái gì rất sâu xa và chính yếu.

Thật vậy, Ðức Kitô là một sự hòa hợp toàn hảo giữa một tâm hồn hết sức nghiêm chỉnh, trong sáng, đúng đắn, với một phong thái hết sức ung dung, tự tại, tự do phóng khoáng, với cách ứng xử luôn vui tươi, thoải mái, hài hước, đùa giỡn, để hòa hợp với mọi người, để gần gũi được mọi người. Phong độ của Ngài khác hẳn với bọn Kinh Sư Do Thái. Bọn này bên ngoài thì nghiêm trang đúng đắn, trịnh trọng lễ nghi khiến người khác phải kính trọng khép nép, nhưng bên trong thì đầy quanh quéo, ẩn khúc, độc ác, kiêu căng, tư tưởng của họ chẳng đúng đắn chút nào. Ðức Kitô thích vui chơi thoải mái, thích tham dự những buổi tiệc, lễ lạc, hòa mình vào nếp sống người bình dân. Ngài không kiêng kị giao du với những người bị xã hội coi là tội lỗi, như bọn gái điếm, những người thu thuế, người Samari... Ngài rất ghét và thường châm biếm vẻ «ta đây», kiêu căng, khoe mẽ, tính câu nệ lề luật mà thiếu tình thương của giai cấp lãnh đạo tôn giáo. Ngài thích vui vẻ đùa giỡn, chơi chữ, thoải mái, đặt nặng tình người, lòng yêu thương bên trong và coi nhẹ những biểu lộ giả tạo bên ngoài của luật lệ, truyền thống, phong tục... Theo Harvey Cox, chỉ khi nào chúng ta có những cách hành xử chơi đùa (comportements ludiques) về khía cạnh tôn giáo, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa những hành động của Ngài.

Các nhà thần học về nhàn nhã vui chơi cũng áp dụng tinh thần vui chơi đó vào Giáo Hội (Ecclesia ludens). Nhờ cái chết và sự phục sinh của Ðức Kitô, các Kitô hữu được giải phóng khỏi ách tội lỗi, ách của ma quỉ, của thần chết, của lề luật, của các u buồn. Nhờ vậy, Người Kitô hữu luôn sống trong niềm vui, tự do thoải mái, không bị ràng buộc vào những ách đau buồn đó. Ðược giải phóng khỏi những ách đó, tương quan giữa Giáo Hội và Ðức Kitô là tương quan vợ chồng, với tất cả những quan hệ yêu đương, những vui thú của tình yêu. Sách Nhã Ca đã tả chân mối tương quan đầy vui chơi và lạc thú đó. Thoát khỏi ách tội lỗi, ma quỉ, lề luật; tương quan giữa con người với Thiên Chúa là tương quan Con với Cha. Hình ảnh hai cha con vui vẻ đùa giỡn với nhau trong yêu thương chính là hình ảnh lý tưởng chân thực, diễn tả tương quan đúng đắn nhất giữa con người với Thiên Chúa...

Quan niệm như thế, Giáo Hội không phải là một cộng đoàn chỉ biết nghiêm chỉnh làm việc, mà là một Ecclesia ludens (Giáo Hội vui chơi) đầy sức sống, đầy vui tươi hoan lạc. Giáo Hội là bí tích của Nước Trời, mà Nước trời đã được Thánh Kinh mô tả như một yến tiệc linh đình, một hình thức vui chơi thoải mái. Chỉ trong tinh thần vui chơi nhàn nhã này, sứ điệp mà Giáo Hội rao giảng mới đích thực là Tin Mừng, tức cái tin làm cho mọi người nghe đều vui tươi phấn khởi. Chắc chắn vào thời cánh chung, Ecclesia celesta (Giáo Hội trên trời) phải là Ecclesia ludens (Giáo Hội vui chơi), một Giáo Hội đầy vui tươi hoan lạc. Viễn ảnh đó vừa là hy vọng, vừa là điều Giáo Hội trần gian phải cố gắng đạt tới ngay ở đời này. Giáo Hội trần gian phải phần nào là một Ecclesia ludens đầy nét tươi vui hấp dẫn để các con cái mình phần nào hưởng nếm trước niềm vui của cái cứu cánh mà cả Giáo Hội đang đi tới.

Con người được Thiên Chúa dựng nên để hưởng hạnh phúc chứ không để chịu đau khổ, để vui chơi hưởng nhàn chứ không để bận rộn làm việc. Nếu có làm việc thì chỉ là để vui chơi: làm việc cũng là một thứ trò chơi. Nhưng từ khi tội lỗi xen vào đời sống con người, đau khổ cũng xen vào như một hậu quả tất yếu, và sự làm việc trở thành khó khăn như một hình phạt, và con người bị bó buộc phải làm việc để sống. Việc làm đã mất đi sự vui thú của nó. Thiên Chúa cũng làm việc, các thiên thần cũng làm việc, nhưng cảm thấy vui thú trong công việc. Làm việc để vui thú, việc làm trở thành một trò vui hơn là một nhu cầu bắt buộc. Nhất là khi động lực để làm việc là tình yêu, làm việc để làm cho người mình yêu hạnh phúc. Một cô gái thêu một chiếc khăn tay, đan một chiếc áo len để tặng cho chàng trai mình yêu tha thiết, thì công việc đó là một niềm vui, cô cảm thấy hạnh phúc khi làm việc đó. Nhưng nếu cô bị ép buộc phải làm việc đó cho một người cô ghét cay ghét đắng, thì cũng là công việc y như vậy mà cô lại cảm thấy nặng nhọc như một hình phạt. Vấn đề chỉ là hay không có tình yêu mà thôi. Tội lỗi hay tình trạng thiếu tình yêu chính là nguyên nhân khiến cho con người thấy công việc thành nặng nhọc, không còn là một trò vui thú nữa.

Do đó, củng cố tình yêu nơi bản thân, coi công việc là một cách để làm cho người mình thương yêu, Thiên Chúa, tha nhân, được vinh quang, hạnh phúc, ta sẽ thấy việc làm trở thành một niềm vui, một trò vui chơi. Như vậy, công việc là một điều vui thú hay là một gánh nặng, chủ yếu là do thái độ nội tâm của ta hơn là do chính công việc. Vậy, giải phóng mình khỏi sự nặng nhọc buồn chán của công việc, khỏi ách nô lệ công việc, không gì bằng giải phóng nhãn quan của mình về công việc, nghĩa là phải thay đổi cách nhìn cũng như quan niệm của mình về công việc. Ðừng nhìn nó một cách quá nghiêm chỉnh, coi công việc là công việc với tất cả tính nghiêm trọng của nó. Cách nhìn đó làm ta mất hết hứng thú thậm chí làm đầu óc ta căng thẳng và làm khả năng ta tê liệt.

Hãy coi công việc mình làm như một trò tiêu khiển, và cũng như một đứa trẻ, hễ chơi trò này mệt thì đổi sang trò chơi khác. Một linh mục khi «chơi trò» nghiên cứu kinh thánh hay soạn bài giảng thấy mệt thì chuyển sang «trò» đi thăm giáo dân hay ra nhà nguyện «vui đùa» với Cha mình. Một tu sĩ cảm thấy chán và mệt với «trò» học hành, hãy chuyển sang «trò» viết thư thăm gia đình hoặc bạn bè. Nói chung, lấy trò này để giải trí cho trò kia, dùng việc nhẹ để tiêu khiển sau khi làm một việc nặng. Một giáo dân cảm thấy mệt vì «trò chơi» kiếm tiền nuôi gia đình, thì hãy chuyển sang «trò» phục vụ đồng nghiệp mình, hoặc «trò» về nhà đùa giỡn với con cái, cùng đi picnic với gia đình ở một công viên nào đó…

Nếu tội lỗi khi đi vào thế gian đã biến sự làm việc thành một gánh nặng, một sự buồn chán, thì khuynh hướng đi ngược lại, tức biến công việc thành niềm vui, thành trò chơi, ắt là một khuynh hướng thánh thiện, tốt đẹp. Ðó cũng là một cách thánh hóa công việc, là vui đùa với Thiên Chúa bằng công việc mà mình vốn coi nó là trò chơi.

Tính cách vui chơi và nghỉ ngơi được đặt rất nặng trong Kitô giáo nguyên thủy, thậm chí trong phụng vụ. Thật vậy, không có tôn giáo nào trên thế giới có nhiều ngày mừng lễ như trong Giáo Hội Công Giáo. Ngoài những ngày lễ lớn như Giáng Sinh, Phục Sinh... ngày nào trong tháng hay trong tuần, Giáo Hội cũng mừng lễ để kỷ niệm một biến cố nào đó trong lịch sử cứu độ hay lịch sử Giáo Hội, hoặc để mừng kính một vị thánh nào đó.

Thời xưa, lễ thường đi liền với hội, nên người ta thường gọi là lễ hội. Lễ: có tính cách thờ phượng, phụng vụ; Hội: có tính cách vui chơi giải trí, để cụ thể hóa tinh thần mừng lễ. Hội là hội hè, đình đám, vui chơi. Vì thế, trong ngôn ngữ phụng vụ của Giáo Hội, các ngày trong tuần đều được gọi là FERIA (nguyên thủy có nghĩa là ngày nghỉ lễ): Feria prima hay Dies Dominica (ngày thứ nhất hay Chúa Nhật), Feria secunda (thứ hai), Feria tertia (thứ ba)...[*] Chỉ có ngày thứ bảy là vẫn giữ danh từ Cựu Ước tức Sabbat (cũng là ngày nghỉ lễ). Ðiều đó cho thấy quan niệm của Giáo Hội xưa coi ngày nào trong năm phụng vụ cũng là ngày lễ nghỉ cả, đều là ngày để ăn mừng một điều gì đó. Do đó, bầu khí vui chơi ăn mừng có quanh năm suốt tháng.
[*] Tên của các ngày trong tuần trong Giáo Hội Công giáo: 
Dies Dominica (hay Feria prima) = Chúa nhật
Feria secunda = Thứ hai
Feria tertia = Thứ ba
Feria quarta = Thứ tư
Feria quinta = Thứ năm
Feria sexta = Thứ sáu
Sabbat = Thứ bảy
Ðiều đó thật hợp với ý nghĩa của hai chữ Tin Mừng (Tin làm vui mừng). Vì Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội rao giảng Tin Mừng, nên Tin Mừng đó phải làm cho mọi người trong Giáo Hội vui mừng trước đã. Thật vậy, rao giảng Tin Mừng với tâm trạng chẳng vui mừng gì cả, làm sao ta có thể làm người nghe cảm nhận thực sự đó là Tin Mừng? Do đó, Giáo Hội Công Giáo phải là một Giáo Hội lúc nào cũng vui mừng, cũng mừng lễ, cũng vui nhộn, ca hát... để biểu lộ đức tin đáng vui mừng của mình: Vui mừng vì được cứu độ. Còn gì đáng vui bằng điều đó? Chúa Giêsu đã chẳng bảo các môn đệ: «Anh em chớ vui mừng vì quỉ thần phải khuất phục anh em, mà hãy vui mừng vì tên của anh em đã được ghi trên Trời» (Lc 10,20) sao?

Ngày nay, do việc kỹ nghệ hóa, đô thị hóa, đời sống của các Kitô hữu cũng như mọi người khác trở nên bận rộn, tính chất hội hè vui chơi mang tính cộng đồng của ngày lễ càng ngày càng suy giảm. Vì thế, Giáo Hội hiện nay có vẻ như chỉ có lễ mà không có hội, phụng tự chỉ còn tính cách trang nghiêm mà mất đi tính cách vui đùa giải trí! Âu cũng là một điều mất hứng thú!

Người Cha trong gia đình thường nghe những tiếng cười ròn rã của đàn con nô đùa và cảm thấy điều đó đem lại niềm vui cho ông không kém gì khi thấy chúng nghiêm chỉnh làm việc. Nhưng chắc hẳn ông không cảm thấy hài lòng nếu chúng cứ nô đùa hoài mà không quan tâm tới làm việc, hoặc nếu chúng chỉ biết nghiêm trang làm việc mà không biết vui đùa với nhau và với ông. Cha trên Trời chắc hẳn không khác! Mất đi tính vui chơi, việc phụng tự đã mất đi nhiều ý nghĩa quan trọng và nét tươi vui phải có của nó!


4. KẾT LUẬN

Vui chơi, giải trí, nhàn nhã là điều kiện cần thiết để có thể làm việc được lâu dài và hiệu quả, điều đó ai cũng phải công nhận. Và để có điều kiện vui chơi giải trí và nhàn nhã một cách thoải mái, thì người ta phải làm việc. Thật vậy, muốn đi Vũng Tàu nghỉ mát và tắm biển, hay muốn tổ chức đi picnic với nhau ở một nơi nào đó, phải có phương tiện, tiền bạc. Ðiều đó giả thiết phải làm việc trước mới có. Như vậy, làm việc và vui chơi, làm việc và nghỉ ngơi là điều kiện lẫn cho nhau.

Nhưng có hai thái độ: một số người coi vui chơi và nghỉ ngơi là để phục vụ cho làm việc, coi làm việc là mục đích, vui chơi hay nghỉ ngơi là phương tiện; một số người khác coi làm việc là để sau này có thể vui chơi và nghỉ ngơi, nghĩa là coi vui chơi, nghỉ ngơi là mục đích, còn làm việc là phương tiện. Lập trường nào cũng có lý của nó.

Theo quan điểm của Thần học vui nhàn, chắc chắn cứu cánh của con người không phải là làm việc, mà là vui chơi, nghỉ ngơi, nhàn nhã. Thời xưa, trong nhiều sách giáo lý, câu hỏi đầu tiên là: «Phải làm gì cho được thanh nhàn vui vẻ vô cùng? và câu trả lời là: Phải giữ đạo thánh Ðức Chúa Trời». Như vậy rõ ràng theo các sách giáo lý đó, việc vui chơi, nhàn nhã là cứu cánh của chính việc giữ đạo Ðức Chúa Trời, huống gì làm việc. Và để dịch SALUS (Salut), có nguyên nghĩa là cứu, hay ơn cứu độ, tổ tiên ta đã dùng một từ dễ hiểu hơn, là phần rỗi, hay việc rỗi linh hồn. Từ rỗi ở đây chỉ có thể có nghĩa là rảnh rang, thong thả, nhàn nhã (trong tự điển, dường như không còn nghĩa nào khác). Phần rỗi đó chính là cứu cánh của việc giữ đạo Thiên Chúa. Tinh thần của sách giáo lý cũ và cách dịch chữ SALUS của tổ tiên ta chứng tỏ tổ tiên ta đã có trước những ý niệm mà sau này các nhà thần học vui nhàn chủ trương, tức coi sự vui chơi nhàn nhã là cứu cánh tối hậu của hiện hữu, cứu cánh ấy không thể là gì khác hơn là sự nhàn nhã vui chơi, và cứu cánh tối hậu ấy cũng chính là Thiên Chúa. Sự nhàn nhã, vui chơi, thoải mái, hạnh phúc, tự do đều nằm trong bản tính của Thiên Chúa.

Nếu cứu cánh cuối cùng của con người là nhàn nhã vui chơi, và nếu để được nhàn nhã vui chơi phải làm việc, thì đương nhiên giai đoạn hiện tại, tức trong cuộc sống đời này, chúng ta phải làm việc, phải giữ đạo thánh Ðức Chúa Trời cho nghiêm chỉnh như một phương tiện cần thiết để đạt được cứu cánh tối hậu kia. Và vì cứu cánh tối hậu của công việc, của việc giữ đạo là vui chơi nhàn nhã, nên chúng ta cần phải làm việc và giữ đạo trong tinh thần nhàn nhã vui chơi đó, để công việc, sự giữ đạo của chúng ta trở nên nhẹ nhàng thoải mái vui tươi hơn. Nghĩa là chúng ta có thể coi cuộc sống đời này, với các bổn phận, trách nhiệm, công việc phải làm, như một trò chơi lớn mà người thắng cuộc sẽ được vinh thưởng sau khi trò chơi kết thúc.

Nguyễn Chính Kết


________________________________________________


Phụ lục


Ðể Vui Chơi

Marie Noel, Notes intimes, Ed. Stock.
(Trích trong tự điển THÉO, mục Jeux)

Tôi không muốn nên trọn lành theo kiểu trọn lành của con người. Tôi không muốn tạo ra trong tôi một thứ lương tâm hành xử như một cảnh sát đứng ở mọi ngã đường để rình bắt những tên tội phạm đi ngang qua. Tôi không muốn mệt mỏi một cách thảm sầu vì ngày đêm cứ phải đo đạc, tính toán, cưa, đẽo, bào đục, để biến khúc cây sần sùi, lắm mắt thành một cỗ quan tài chôn xác chết.

Tôi muốn nên toàn thiện theo kiểu toàn thiện của Cha trên Trời. Ngài có luật lệ mà cũng có vui chơi thoải mái. Tác phẩm của Ngài đâu phải chỉ là các thiên thần sáng láng mà còn là những con bướm; không chỉ là trời, sao, cùng muôn vì tinh tú lúc nào cũng sẵn sàng vâng phục, mà còn là lửa, là gió, là những đám mây bất định thất thường.

Ngài vui đùa với những bông hoa, những đuôi con sóc, lông con công, chân con cò, vòi con voi, bướu lạc đà; Ngài sáng tạo ra là để vui chơi, nếu không phải để vui chơi thì để làm gì? Và nếu Ngài tìm thấy vui thú, có thể như vậy, nơi một tu sĩ thánh thiện đang ngày đêm hy sinh, cố gắng tuân giữ kỷ luật, thì chắc chắn Ngài cũng sẽ chúc lành bằng một nụ cười cho con dê đang nhảy múa, cho con gà đang ấp, cho con dê đực râu dài đang chồm lên con dê cái bạn nó.

Tôi muốn tâm hồn mình, cũng như tất cả các công trình của tôi, vừa có trật tự mà cũng vừa mang tính lãng mạn ngông cuồng (fantaisie).

Nguyễn Chính Kết dịch